Phân biệt các sản phẩm nhựa “thân thiện hay không thân thiện” với môi trường

Ngày đăng: 31/12/2015

Vướng văn bản

Ngày 20/12/2011, Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) đã có công văn 50/CV-HHNVN lên tiếng về việc bị áp thuế lên tất cả các bao bìmàng pe - nhựa nilon khiến nhiều DN khó khăn trong sản xuất, kinh doanh. Theo VPA, nhiều khách hàng sử dụng sản phẩm túi nilon đã lựa chọn sản phẩm khác, hoặc tìm nguồn khác từ nhập khẩu và thậm chí cắt đơn hàng với DN sản xuất.

3 hiệp hội: Chế biến và XK Thủy sản Việt Nam (VASEP); Dệt may Việt Nam (VITAS) và Da giày Việt Nam (LEFASO), đã khẩn cấp gửi công văn tới các cơ quan chức năng kiến nghị, xem xét lại việc áp dụng quy định thu thuế BVMT đối với bao bì nilon.

Theo tính toán của VITAS, LEFASO và VASEP, khoản chi phí cho bao bì túi PE, PA trong giá thành sản phẩm của họ chiếm lần lượt 5%; 1,5 – 2% và khoảng 0,1 USD/kg sản phẩm thủy sản. Từ khi Luật Thuế BVMT có hiệu lực đã làm chi phí bao gói tăng từ 30% đến 50%. Hiện, các chi phí khác tiếp tục xu hướng tăng giá, đã làm cho sản phẩm dệt may, da giày và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam khó cạnh tranh.

Các quy định trong Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Thông tư 152/2011/TT-BTC quá chung chung. Việc định nghĩa túi nilon bao gồm hầu hết ngành bao bì màng pe - nhựa nilon. Nhưng trong Luật Thuế BVMT lại giải thíchõ: “Túi nilon thuộc diện chịu thuế là loại túi, bao bì được làm từ màng PE nhựa đơn, tên kỹ thuật là túi nhựa xốp”.

VPA cho rằng, Luật Thuế BVMT hàm ý những túi dân gian gọi là túi xốp (T-Shirt Shopping bags) mọi người xách hàng hóa về từ chợ, siêu thị. Loại túi này làm từ HDPE+LLDPE từ mỏng đến siêu mỏng và thường chỉ sử dụng một lần. Trong khi đó, hầu hết các loại túi thuần LLDPE/LDPE không có quai xách (do bản chất mềm dẻo) và người ta không gọi túi LLDPE là túi xốp. Bản thân loại túi này có giá trị tái sinh cao hơn nhiều so với túi xốp.

Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Thông tư 152/2011/TT-BTC quy định, túi nilon thuộc diện chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì màng pe - nhựa nilon mỏng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi nilon đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của pháp luật về BVMT và hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Theo VPA, Nghị định 67 và Thông tư 152 đã “đi quá xa so với tinh thần của Quốc hội và Luật Thuế BVMT” khi “đưa thêm hai thành phần nhựa LLDPE/LDPE vào”. VPA phân tích, 1kg túi LLDPE dùng xong, rửa qua và tạo hạt có giá từ 23.000-26.000 đồng/kg, tương đương 85% giá nhựa LLDPE chính phẩm. Trong khi túi LDPE sau công đoạn tương tự chỉ có giá từ 12.000-16.000 đồng/kg, chưa bằng 50% giá nhựa LDPE chính phẩm vì trong thành phần nhựa này có màu và rất nhiều taical - phụ gia được trộn vào trong quá trình sản xuất túi nilon xốp PP, PE.

Xuất phát từ những quy định thiếu rõ ràng này, nên “hầu hết các cán bộ thực hiện thu thuế môi trường không biết rõ thế nào là túi nhựa PE, PP hay BOPP hoặc nhựa khác, túi màng PE đơn hay màng ghép phức hợp nhiều lớp, túi làm từ màng PE/PA ghép 2 lớp, màng PE/BOPP/PETghép 3 lớp hoặc túi làm từ màng PE ghép 5 lớp BOPP/PET/nhôm…

Như vậy dễ gây gian lận khi thực hiện thu thuế”. VPA kiến nghị, cần “trả mọi thứ về với tinh thần của Quốc hội và tinh thần chung của cả thế giới. Chỉ nên hạn chế túi xốp mỏng như quy định trong Luật Thuế BVMT”.

Liên quan đến nội dung này, ông Nguyễn Duy Điền phân tích: “Nếu nói về khả năng tự phân hủy thì màng ghép hay phức hợp (từ 2 lớp trở lên) khó phân hủy và cũng khó tái chế hơn rất nhiều so với màng đơn. Tuy nhiên, Luật lại chỉ quy định đánh thuế đối với sản phẩm túi nhựa màng đơn là không thỏa đáng”. Vì vậy, cần phải có quy định rõ ràng thế nào là túi nilon “đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường”.

Theo Điểm 2.4, Khoản 2, Điều 2 Thông tư 152 quy định về đối tượng không chịu thuế: Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài do cơ sở sản xuất (bao gồm cả gia công) trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu, trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT để xuất khẩu. Theo ông Vũ Văn Thắng, quy định như vậy, nếu các DN, cơ sở, cá nhân sản xuất túi nilon thuộc diện chịu thuế nhưng trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu ra nước ngoài mà không tiêu thụ trong nước thì không phải nộp thuế BVMT.

Ngày 30/1/2012, Bộ Tài chính có công văn 1199/BTC-TCT hướng dẫn thực hiện Thông tư 152, khẳng định: Các trường hợp hàng hóa nhập khẩu để gia công sau đó xuất khẩu ra nước ngoài thì thuộc đối tượng không phải nộp thuế BVMT. Nhưng đối với nhiều ngành hàng xuất khẩu (thủy sản, dệt may, da giày...) thì túi PE, PA là loại vật tư không thể thiếu. Với quy định này, thì chỉ túi nilon nhập khẩu để bao gói hàng xuất khẩu mới được xếp vào đối tượng không chịu thuế BVMT. Còn túi nilon mua trong nước để bao gói hàng xuất khẩu không tiêu thụ tại thị trường trong nước, không ảnh hưởng tới môi trường Việt Nam hoặc có thể xem như hàng hóa xuất khẩu vẫn phải chịu thuế sẽ trở thành nghịch lý.


Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế - Bộ Tài chính Ngô Hữu Lợi khẳng định, còn quá sớm để đánh giá được hiệu quả của sắc thuế này cũng như tác động của nó đến đời sống người dân hay hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Ông Lợi cho biết, từ khi Luật thuế Bảo vệ môi trường chính thức được áp dụng, Bộ Tài chính chỉ nhận được một số kiến nghị của các công ty bao bì màng pe - nhựa nilon trong việc phân biệt các sản phẩm nhựa “thân thiện hay không thân thiện” với môi trường để áp thuế.

Còn quá sớm để đánh giá tác động

Đúng như tên gọi của Luật, thuế Bảo vệ môi trường là nhằm hạn chế sử dụng một số sản phẩm độc hại, ảnh hưởng đến môi trường. Tác động rõ nhất đó là giá của những mặt hàng này. Khảo sát tại các chợ ở Hà Nội có thể nhận thấy, giá bán túi nilon, túi xốp, màng PE thời gian qua tăng cao, có loại tăng tới 100% với lý do được người bán đưa ra là chịu thuế Bảo vệ môi trường.

Chị Trần Thị Hà, bán rau tại chợ Ngọc Lâm (Long Biên) cho biết, từ đầu tháng 1, giá túi nilon - màng PE  đột nhiên tăng vọt, trước đây, loại túi chị thường xuyên sử dụng có giá khoảng 15.000 đồng/kg, nay lên tới hơn 40.000 đồng/kg. Với số lượng 2-3 kg túi nilon - màng PE được dùng mỗi ngày, chị Hà đang tính đến phương án tăng giá rau “mỗi thứ một ít” để bù vào chi phí mua túi.

Chị Yến, bán thịt lợn ở một chợ nhỏ trên đường Cầu Giấy cũng cho biết, giá loại túi “sạch” (không màu, không mùi) chị vẫn mua bình thường giá chỉ 41.000 đồng/kg nay tăng lên 65.000 đồng, có loại tới 70- 80.000 đồng. Tuy nhiên, khác với chị Hà, chị Yến cho rằng, chỉ cần hạn chế bớt việc đưa túi nilon - màng PE cho khách, thay vì mỗi loại thịt để một túi thì nay chị gom vào 1 túi thì sẽ tiết kiệm được chi phí mà không cần phải tăng giá.

Dù giá túi tăng gấp rưỡi, gấp đôi nhưng nhu cầu sử dụng vẫn không giảm. Theo chủ một cửa hàng phân phối bao bì các loại trên đường Hàng Chiếu (Hà Nội), giá có cao đến mấy, những người bán hàng vẫn phải mua vì thói quen sử dụng túi nilon - màng PE    chưa thể “một sớm một chiều” thay đổi được. Thậm chí, hầu hết những người dân khi được hỏi đều nhận thức rõ tác hại của túi nilon - màng PE nhưng vẫn "tặc lưỡi" sử dụng vì tiện lợi, vì thế “giá có tăng lên chút đỉnh cũng chấp nhận được!”.

Điều đáng nói, bản chất thuế Bảo vệ môi trường nhằm vào các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm dựa trên lượng sản phẩm tiêu thụ. Còn cơ sở nhỏ sản xuất túi nilon, túi xốp, màng PE được giao thuế khoán do lượng hàng hóa bán ra từ những cơ sở này rất khó kiểm soát để buộc họ đóng thuế Bảo vệ môi trường. Thế nhưng, chính những cơ sở chỉ đóng thuế khoán này lại là nguồn tăng giá mạnh nhất, tăng cả những mặt hàng được miễn thuế làm từ nhựa, bạt,… thêm vài chục nghìn đồng với nguyên nhân “nộp thuế bảo vệ môi trường”. Như vậy có thể thấy, những ảnh hưởng của thuế bảo vệ môi trường trong hơn 1 tháng qua thực chất là tiểu thương lợi dụng chính sách để trục lợi.

Trao đổi với Báo Hải quan, Chuyên gia kinh tế - TS. Nguyễn Minh Phong cho biết, ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đang rất đáng báo động. Do đó, việc các cơ quan quản lý sử dụng thuế để làm một trong những công cụ bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết. TS. Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh, việc áp dụng Luật thuế Bảo vệ môi trường sẽ bổ sung kinh phí cho ngân sách Nhà nước để phục vụ cho công tác tái tạo môi trường, cùng với đó sẽ điều tiết nghĩa vụ của các cơ quan phát thải gắn liền với điều tiết hành vi của người dân.

Tuy nhiên, đối với những DN vẫn sử dụng công nghệ cũ, nguồn vốn ít, sắc thuế này sẽ trở thành gánh nặng cho chi phí sản xuất. TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng, trong thời điểm này, cơ quan Thuế cần tiếp tục tổ chức giải thích cho DN hiểu nguồn thu từ thuế này sẽ được sử dụng như thế nào. Ngoài ra, từ phía DN, trong những giai đoạn khó khăn nhất định, các DN có cùng một vấn đề có thể phối hợp kiến nghị với các cơ quan chức năng đề xuất được điều chỉnh hoặc có giải pháp hỗ trợ.

Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một khía cạnh của vấn đề. Theo một số chuyên gia kinh tế, sắc thuế này là vô cùng cần thiết và áp dụng vào thời điểm này cũng có thể coi là quá muộn vì những nguy hại về môi trường do sản phẩm từ túi nilon, màng PE gây ra là rất lớn và ảnh hưởng trong nhiều năm. Do đó, cái gốc của vấn đề đó chính là các DN nên có tầm "nhìn xa trông rộng", đón đầu nắm bắt thị trường để có những sản phẩm túi thân thiện với môi trường, thay thế thói quen dùng túi nilon, màng PE của người tiêu dùng. Để thực sự làm được điều này, vấn đề giá cả vẫn có ý nghĩa quyết định.

Thẻ: màng pe, mang pe, màng quấn pallet, mang quan pallet, bang keo, băng keo, dây đai, day dai, tin tức, phân biệt các sản phẩm nhựa thân thiện


Tin tức liên quan